#1 - Tranh luận về định hướng địa chiến lược của Việt Nam

Ngô Di Lân

Việt Nam nên tiếp tục phát triển lực lượng hải quân hay nên xoay trục về đất liền để đảm bảo an ninh một cách tốt nhất? Có lẽ ai cũng đồng ý rằng đây là một câu hỏi quan trọng cần được xem xét kỹ lưỡng. Là một quốc gia tầm trung mới nổi, Việt Nam đơn giản là không có đủ nguồn lực để vừa xây dựng một lực lượng hải quân hùng mạnh, vừa phát triển một lực lượng lục quân tinh nhuệ. Do đó, việc lựa chọn những đánh đổi chiến lược phù hợp là không thể tránh khỏi để tối ưu nguồn lực quốc gia.

Nguồn: The Diplomat

Tuy nhiên, tôi cho rằng cuộc tranh luận mới đây về định hướng địa chiến lược của Việt Nam do NCS. Khang Vũ “châm ngòi” đã bỏ sót một điểm quan trọng. Tranh luận về việc quân đội Việt Nam nên tập trung vào đất liền hay nhìn ra biển sẽ không mấy giá trị nếu ta không xác định rõ ràng và chính xác hình thái của mối đe dọa an ninh lớn nhất trong tương lai và kịch bản xấu có khả năng xảy ra cao nhất. Xét cho cùng, việc đầu tư cho binh lực sẽ không cải thiện an ninh quốc gia nếu hệ thống vũ khí được mua và học thuyết quân sự được phát triển không phù hợp với mối đe dọa khả dĩ nhất.

 

Trong bài viết của mình, hai học giả Euan Graham và Bích Trần lập luận rằng Việt Nam nên tiếp tục tập trung đầu tư cho hải quân hiện tại vì nền kinh tế định hướng xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc vào tự do hàng hải ở Biển Đông. Họ lo ngại rằng Việt Nam có thể dễ bị phong tỏa nếu Trung Quốc có “quyền kiểm soát tuyệt đối trong cái gọi là đường chín đoạn và có được quyền tiếp cận căn cứ hải quân ở Campuchia”. Tuy nhiên, các tác giả không chỉ ra được “quyền kiểm soát tuyệt đối” nghĩa là gì và điều gì có thể khiến Trung Quốc phong tỏa Việt Nam trong tương lai. Vì vậy, không rõ tại sao cuộc phong tỏa hải quân này lại là kịch bản “ác mộng” đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam và việc tăng cường hải quân có thể ngăn kịch bản này xảy ra như thế nào.

 

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Phương cũng đồng tình với quan điểm rằng Việt Nam nên ưu tiên đầu tư vào hải quân, chỉ ra rằng Hà Nội nên lo ngại nhất về một cuộc xung đột quân sự ở Biển Đông, một kịch bản có thể xảy ra sau các cuộc tấn công phủ đầu (có lẽ là của Trung Quốc) bằng cách sử dụng vũ khí tầm xa và tấn công mạng. Kịch bản đặc biệt xấu khác sẽ là “một cuộc phong tỏa trên biển đối với các tiền đồn của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa”. Giả định rõ ràng ở đây là bằng cách đầu tư vào sức mạnh hải quân, Việt Nam có thể ngăn cản các nước bên ngoài gây hấn như vậy trong tương lai. Tuy nhiên, như xung đột Nga-Ukraine đã cho thấy, khi bên tấn công mạnh hơn nhiều và đã hạ quyết tâm tiến hành chiến tranh, rất có thể là không có hình thức răn đe nào ngoài răn đe hạt nhân có thể phát huy được hiệu quả.

 

Trái với quan điểm của các tác giả nêu trên, Khang Vũ cho rằng Việt Nam nên ưu tiên lực lượng trên bộ vì chiến tranh trên bộ luôn quan trọng hơn đối với an ninh của Việt Nam. Mặc dù đồng ý với Khang cho rằng các mối đe dọa trên đất liền rõ ràng gây nguy hiểm lớn hơn cho an ninh Việt Nam, nhưng tôi không nhìn thấy việc đầu tư vào một lực lượng lục quân hùng mạnh có thể ngăn Trung Quốc lôi kéo Lào và Campuchia chống lại Việt Nam như thế nào. Liệu Việt Nam có thể đảm bảo hai nước láng giềng duy trì quan hệ hữu hảo trong tương lai hay không phụ thuộc vào chính sách đối ngoại và sự linh hoạt ngoại giao chứ không phải là sức mạnh quân sự. Hơn nữa, không rõ trên thực tế Khang đang ủng hộ những chính sách cụ thể gì. Giả sử mối đe dọa an ninh trên đất liền nghiêm trọng hơn trên biển, thì giới lãnh đạo Việt Nam nên tập trung vào điều gì? Cụ thể hơn, quân đội Việt Nam nên áp dụng học thuyết quân sự nào, và để phục vụ các mục tiêu chiến lược gì?  

 

Giả sử các cuộc xung đột vũ trang trong tương lai nhằm vào Việt Nam sẽ xảy ra trên biển, hai câu hỏi sau là đặc biệt quan trọng. Thứ nhất, một cuộc xung đột như vậy dễ xảy ra trong hoàn cảnh nào? Thứ hai, cuộc chiến đó có hình thái ra sao?

 

Trong cuốn sách của mình, Taylor Fravel chỉ ra rằng Trung Quốc có xu hướng hành động hung hăng trong các tranh chấp lãnh thổ để chặn đà suy giảm quyền lực đàm phán của mình so với các bên có tranh chấp khác. Điều đó có nghĩa là chúng ta nên lo lắng về việc Trung Quốc sử dụng vũ lực khi Bắc Kinh cảm thấy bất an vì sức mạnh của họ suy giảm đến mức không còn khả năng duy trì các yêu sách lãnh thổ của mình hoặc vì các quốc gia khác đang có những hành động quyết liệt để mở rộng quyền kiểm soát đối với các vùng lãnh thổ tranh chấp. Logic này giải thích tại sao Trung Quốc chưa chiếm lại Đài Loan nhưng lại luôn phản ứng gay gắt trước bất kỳ động thái hướng tới độc lập của Đài Loan.

 

Nếu thực sự các cuộc xung đột vũ trang có thể xảy ra trong tương lai giữa Trung Quốc và Việt Nam sẽ diễn ra trên Biển Đông, rất có thể nó sẽ nổ ra khi Bắc Kinh cảm thấy rằng họ đang đánh mất quyền kiểm soát đối với một số đảo tranh chấp vì họ đang trên đà suy thoái hoặc vì các bên khác đang cùng nhau giải quyết các vấn đề tranh chấp mà không có sự tham gia của Trung Quốc. Nhưng nếu Trung Quốc khơi mào xung đột vì bất an, nước này nhiều khả năng sẽ dùng chiến thuật “sự đã rồi” thay vì bắt đầu một cuộc chiến hải quân quy mô lớn. Cụ thể, họ sẽ chiếm giữ một hoặc hai hòn đảo hiện do các nước khác kiểm soát, sau đó thách thức bên phòng thủ leo thang xung đột và chấp nhận đối mặt nguy cơ chiến tranh nổ ra để chiếm lại lãnh thổ đã mất. Chiến thuật này sẽ cho phép Trung Quốc khẳng định chủ quyền của mình với chi phí và rủi ro thấp hơn, tương tự như việc Nga đã sáp nhập Crimea năm 2014.

 

Do đó, thách thức chính đối với Việt Nam không phải là ngăn chặn một cuộc chiến trên biển mà là phát triển một lực lượng hải quân có thể chiến đấu hiệu quả trong vùng xám. Chính xác hơn, ta sẽ cần một lực lượng dân quân hải quân hùng mạnh có thể ngăn chặn sự kiểm soát hoàn toàn của Trung Quốc đối với bất kỳ hòn đảo tranh chấp nào mà không leo thang xung đột đến mức chiến tranh. Tên lửa và máy bay chiến đấu sẽ không hữu ích lắm ở đây. Các hệ thống radar hiện đại và các lực lượng tàu tuần tra được trang bị tốt có thể phản ứng nhanh chóng và mạnh mẽ sẽ đóng vai trò quan trọng hơn trong việc ngăn xung đột xảy ra. Mục tiêu chiến lược là ngăn chặn một chiến dịch “sự đã rồi” thành công, đồng thời tạo không gian cho ngoại giao để giải quyết khủng hoảng.

Một cuộc tranh luận về những lựa chọn chiến lược của Việt Nam là cần thiết lúc này nhưng nó phải đi vào những vấn đề hết sức cụ thể. Đặt vấn đề chỉ xoay quanh hai lựa chọn đối nghịch là tập trung vào đất liền hoặc hướng ra biển không giúp ích nhiều ở đây. Câu hỏi “triệu đô” là: quân đội ta có sẵn sàng để chiến đấu và giành chiến thắng trong một cuộc xung đột có thể nổ ra hay không, bất kể là trên đất liền hay trên biển.

 

Previous
Previous

#2 - Liệu các đồng minh có trở thành gót chân Asin của Ukraine?